Điểm khác nhau đề phân các thể loại sau là gì?

0
1165
Điểm khác nhau đề phân các thể loại sau là gì ? Điều gì làm chúng khác nhau ? ( Ví dụ waltz thì có nhịp 3/4 …) : scherzo , romance , prulude , ballad , nocturne , mazurka , waltz,fantasy , polonaise , rondo , impromtu , etude . Còn những tác phẩm lớn như concerto ,sonata , symphony thì sao ? Còn Dumka là thề loại gì vậy các bạn ?
Các bạn dành ít thời gian trả lời giúp mình nha ! Cảm ơn ^_^
fantasy-music-angel-1
Impromptu: Khúc tức hứng, Khúc ứng tác.

Fantasy: Khúc ngẫu hứng. Là tác phẩm khí nhạc mang tính chất tự do, phóng túng.

Prelude: khúc dạo đầu (Tiếng Ý nghĩa là: “dạo ngón trên đàn Lute”) – đây là một đoạn nhạc ngắn, như một lời nói đầu. Thời kỳ đầu nó chỉ là những nét dạo ngắn trước khi vào một ca khúc. Thời kỳ Baroque được dùng để giới thiệu trước khi vào một thể loại khác dài hơn và phức tạp hơn như Fugue (các cặp Prelude và Fugue trong “Bình quân luật của J. S. Bach). Sang thời kỳ lãng mạn nó trở thành 1 tác phẩm độc lập, hoàn chỉnh (VD: Tập 24 preludes, Op. 28 Chopin viết cho Piano).

Etude: Khúc luyện tập- khúc luyện ngón để hoàn thiện kỹ thuật. Sang TK 19 trở thành tác phẩm khí nhạc độc lập, dùng trong hòa nhạc thính phòng mà người hoàn thiện thể loại này là F. Chopin.

Ballade: là một hình thức hát múa xuất hiện vào TK 14 ở Ý, thường viết cho đơn ca có nhạc cụ đệm, đôi khi có sự tham gia của dàn hợp xướng; nội dung thiên về trữ tình, tự sự, nhiều khi nó có quy mô lớn như một hoạt cảnh nhỏ. Đến thế kỷ 19 nó trở thành 1 tác phẩm độc lập, hoàn chỉnh, có nội dung trữ tình, với ý nghĩa như “bài hát tình yêu”.

Nocturne: Dạ khúc – (tiếng Pháp Nocturne có nghĩa là về đêm); đây thường là một tác phẩm âm nhạc lấy cảm hứng hoặc gợi nhiều liên tưởng về đêm. Thời kỳ Trung cổ Nocturne là một thuật ngữ chỉ các buổi hòa nhạc thính phòng ban đêm. TK18, Nocturne cũng chỉ là một tác phẩm thính phòng nhỏ thường sử dụng trong các buổi dạ tiệc (W. A. Mozart với Nocturne cung D, K.286, viết cho tứ tấu thính phòng). Sang TK 19, Nocturne là tác phẩm khí nhạc 1 chương có tính chất trữ tình ca xướng, thể hiện ước mơ và gợi sự yên tĩnh về đêm. Người hoàn thiện và đưa Nocturne lên đỉnh cao là nhạc sĩ thiên tài Frédéric Chopin, với 21 Nocturnes.

Mazurka (Ba Lan, Mazurek) là một điệu nhảy dân gian Ba Lan kết hợp của 2 hình thức âm nhạc dân gian chậm (Kujawiak), và nhanh (Oberek) và thường ở một nhịp độ sống động. Link tham khảo: http://en.wikipedia.org/wiki/File:Mazurk…
Frédéric Chopin đã hoàn thiện thể loại này, đưa Mazurka trở thành 1 tác phẩm độc lập, hoàn chỉnh. Ông đã sáng tác 58 bản Mazurka cho Piano.

Sonata: là tác phẩm khí nhạc viết cho nhạc cụ, có nhiều chương, thường 3-4 chương (movement), trong đó chứa đựng nhiều chủ đề, nhiều hình tượng âm nhạc tương phản. Sự tương phản ấy tạo nên kịch tính, miêu tả những xung đột của xã hội, đấu tranh của nội tâm…Thông thường hình thức Sonata gồm 3 phần:
– Phần trình bày: Mở đầu- Chủ đề chính (viết ở giọng chủ) – Nối – Chủ đề thứ 2 (tương phản với chủ đề chính) – Kết.
– Phần phát triển: là trung tâm, kịch tính của Sonata. Những hình tượng tương phản xung đột, những chủ đề của phần trình bày xuất hiện dưới các dạng khác nhau.
– Phần tái hiện: Nhắc lại chủ đề nguyên dạng (hoặc có biển đổi), trở về điệu tính chủ. Coda.
VD: Piano Sonata “Moonlight” No. 14 in C Sharp Minor Op.27 No.2 (Sonata “Ánh trăng” No.14 Op.27 giọng C thăng thứ của L.W. Beethoven). http://www.youtube.com/watch?v=hjmTMgERi…

Symphony: còn gọi là liên khúc Sonata. Đây là các tác phẩm khí nhạc viết cho dàn nhạc giao hưởng. Nói một cách dễ hiểu nhất, Symphony là một dạng sonata viết cho cả dàn nhạc. Vào TK 18 Symphony thường gồm 4 chương:
Chương 1: Sonata Allegro,thường diễn tả đấu tranh căng thẳng.
Chương 2: Chậm, diễn tả nội tâm, trữ tình, bi thương.
Chương 3: Menuet (Vũ khúc) hoặc Scherzo (Châm biếm).
Chương 4: Final (Chương kết). Thường là Sonata hoặc Rondo Sonata. Tổng kết các chương trên.
Người sáng lập nghệ thuật giao hưởng cổ điển là nhạc sĩ J. Haydn (1732–1809), được mệnh danh là “cha đẻ của giao hưởng” với 104 bản. Nghệ thuật giao hưởng đạt đến đỉnh cao trong các tác phẩm của các nhạc sĩ cổ điển Viên (Haydn, W. A. Mozart, L. Beethoven). Ở Giao hưởng số 9 Beethoven đã đưa dàn hợp xướng vào chương cuối mở ra một khuynh hướng sáng tác mới. Sang TK XIX thì các nhạc sĩ lãng mạn đã viết giao hưởng có 5 chương, hoặc giao hưởng thơ 1 chương. http://vi.wikipedia.org/wiki/Giao_h%C6%B…

Dumka (Ukrainian: думка) là một thuật ngữ âm nhạc Ukraina và các ngôn ngữ khác gốc Slav. Ban đầu, nó là hình thức nhỏ bé của sử thi ballad … có nội dung diễn tả suy nghĩ, nội tâm hay nỗi buồn Các nhà soạn nhạc cổ điển Soviet đã tiếp thu âm nhạc dân gian để đưa vào các tác phẩm cổ điển. Trong âm nhạc cổ điển, nó có nghĩa: “một loại tác phẩm khí nhạc diễn tả sự thay đổi đột ngột từ u sầu đến tâm trạng phấn khởi…” thường đặc trưng bởi một nhịp, nhẹ nhàng chậm chạp đôi khi thơ mộng. Sang TK 19 Dumka được nhiều nhạc sĩ sáng tác, đặc biệt là của Antonín Dvorak (VD: Furiant with Dumka, Op. 12 (1884) for piano solo; Dumka (Elegy), Op. 35 (1876) for piano solo; Slavonic Dances, Op. 46 and 72, (Three of the sixteen) và nổi tiếng nhất, Piano Trio No. 4 in E minor, Op. 90 (1891) — the Dumky-Trio …ngoài ra còn có các tác phẩm của các nhạc sĩ khác như Pyotr Tchaikovsky với Dumka, Op. 59 (Scenes from a Russian village) for solo piano (1886) ….
http://www.youtube.com/watch?v=XtOl8cpa0PI

SHARE

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here